03/08/2026 - 18:25

Hát karaoke và kinh doanh karaoke có bị phạt tiền bản quyền? Bài học từ vụ đầu karaoke Việt KTV

Dân trí – Gần đây, dư luận xôn xao câu hỏi: đi hát karaoke có phải trả tiền bản quyền không, và chủ quán cũng như doanh nghiệp sản xuất đầu karaoke phải thực hiện nghĩa vụ gì theo pháp luật. Trao đổi với phóng viên báo Dân trí, Thạc sĩ – Luật sư Nguyễn Văn Duy, Giám đốc Công ty Luật Hoàng Duy và Cộng sự, cho biết nghĩa vụ trả tiền bản quyền không gắn với người hát, mà gắn với chủ thể sử dụng âm nhạc để phục vụ hoạt động kinh doanh.

Ngày 1/8/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Hà Nội thông tin đã khởi tố bị can đối với ông Vũ Phi Điệp, Giám đốc Công ty TNHH Tập đoàn Điện tử Việt KTV, về tội “Xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan” theo khoản 2 Điều 225 Bộ luật Hình sự.

Theo kết quả điều tra được các cơ quan báo chí đăng tải, dù chưa ký bất kỳ hợp đồng sử dụng bản quyền nào, ông Điệp vẫn chỉ đạo nhân viên kỹ thuật sao chép các tác phẩm âm nhạc từ nhiều nền tảng số, xử lý thành dữ liệu karaoke, chuyển sang định dạng riêng rồi tích hợp vào các thiết bị mang thương hiệu VietKTV trước khi đưa ra thị trường. Dữ liệu được lưu trữ trên hệ thống điện toán đám mây và ổ cứng gốc dung lượng 4TB, sau đó sao chép vào từng đầu karaoke.

Rà soát hơn 41.000 tệp dữ liệu, Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC) bước đầu xác định khoảng 1.500 tác phẩm âm nhạc thuộc phạm vi quản lý của trung tâm đã bị khai thác trái phép, thiệt hại tạm tính khoảng 600 triệu đồng. Một số báo cũng dẫn thông tin số tiền thu lợi bất chính được xác định hơn 850 triệu đồng. Bị can đã khai nhận hành vi vi phạm tại cơ quan điều tra.

Sau vụ việc, nhiều người đặt câu hỏi: đi hát karaoke có phải trả tiền bản quyền không, và chủ quán cũng như doanh nghiệp sản xuất đầu karaoke phải thực hiện nghĩa vụ gì theo pháp luật. Trao đổi với phóng viên báo Dân trí, Thạc sĩ – Luật sư Nguyễn Văn Duy, Giám đốc Công ty Luật Hoàng Duy và Cộng sự, cho biết nghĩa vụ trả tiền bản quyền không gắn với người hát, mà gắn với chủ thể sử dụng âm nhạc để phục vụ hoạt động kinh doanh.

Ba nhóm chủ thể, ba mức nghĩa vụ khác nhau

Theo luật sư Duy, có thể chia thành ba nhóm với trách nhiệm hoàn toàn khác nhau.

Nhóm 1 – Khách hát karaoke: đây là hoạt động phục vụ nhu cầu giải trí cá nhân, không nhằm mục đích thương mại, nên người hát không phải trả tiền bản quyền.

Nhóm 2 – Cơ sở kinh doanh karaoke: chủ thể này sử dụng tác phẩm và bản ghi nhằm mục đích thương mại nên phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền bản quyền theo Luật Sở hữu trí tuệ. Theo điểm b khoản 1 Điều 26 và điểm b khoản 1 Điều 33 Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi, bổ sung năm 2022), việc sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố trong hoạt động kinh doanh không cần xin phép trước, nhưng phải trả tiền bản quyền cho chủ sở hữu theo thỏa thuận kể từ khi bắt đầu sử dụng. Trên thực tế, khoản tiền này thường được thực hiện thông qua VCPMC.

Nhóm 3 – Doanh nghiệp sản xuất, cung cấp đầu karaoke: đây là nhóm có nghĩa vụ pháp lý khác hẳn hai nhóm trên. Luật sư Duy dẫn chính trường hợp của VietKTV làm ví dụ: doanh nghiệp đã sao chép, chuyển đổi định dạng và cài đặt tác phẩm vào thiết bị để kinh doanh. Vì quyền sao chép là độc quyền của chủ sở hữu, doanh nghiệp muốn thực hiện phải được cho phép và trả tiền theo thỏa thuận, thay vì chỉ áp dụng cơ chế “không cần xin phép nhưng phải trả tiền” như cơ sở kinh doanh karaoke.

Cập nhật nhạc trực tuyến có được coi là sao chép?

Nhiều doanh nghiệp hiện cập nhật bài hát cho đầu karaoke thông qua Internet hoặc lưu dữ liệu trên máy chủ, nền tảng điện toán đám mây rồi đồng bộ tới hàng nghìn thiết bị. Theo luật sư Duy, dưới góc độ pháp lý, đây không đơn thuần là thao tác kỹ thuật.

Việc tải bài hát từ nền tảng số, chuyển đổi định dạng rồi lưu vào máy chủ, ổ cứng hoặc hệ thống đám mây đều là hành vi sao chép, vì mỗi bước đều tạo thêm một bản sao của tác phẩm. Mỗi lần dữ liệu được đồng bộ xuống một đầu karaoke lại tiếp tục tạo thêm một bản sao khác.

Trong trường hợp hệ thống cho phép người dùng tải bài hát từ kho dữ liệu trực tuyến đã kết nối sẵn, hoạt động này còn liên quan đến quyền phân phối và quyền truyền đạt tác phẩm tới công chúng. Luật sư Duy lưu ý cơ chế “không cần xin phép nhưng phải trả tiền” chỉ áp dụng đối với việc phát bản ghi trong hoạt động kinh doanh karaoke, chứ không áp dụng đối với việc sao chép tác phẩm để sản xuất thiết bị.

Đã mua nhạc có đồng nghĩa được toàn quyền kinh doanh?

Một quan điểm phổ biến là doanh nghiệp chỉ cần mua file nhạc hoặc tải từ các nền tảng số rồi chuyển thành dữ liệu karaoke để sử dụng nên không vi phạm bản quyền. Theo luật sư Duy, đây là cách hiểu chưa chính xác.

Việc mua một file nhạc chỉ đồng nghĩa với việc người dùng sở hữu bản sao của file, hoặc được cấp quyền sử dụng theo điều khoản của nền tảng – hiểu đơn giản là mua quyền được nghe. Điều này không có nghĩa người mua được chuyển giao các quyền tài sản đối với tác phẩm, như quyền sao chép, quyền làm tác phẩm phái sinh, quyền phân phối hay quyền truyền đạt tới công chúng. Trên thực tế, các nền tảng số thường chỉ cấp phép cho mục đích nghe cá nhân, phi thương mại, và không cho phép người dùng sao chép hoặc khai thác thương mại nội dung.

Luật sư Duy cũng khẳng định việc chuyển file nhạc thành phiên bản karaoke thông qua tách lời hoặc chỉnh sửa còn có thể liên quan đến quyền làm tác phẩm phái sinh và quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm. Việc làm tác phẩm phái sinh không chỉ bắt buộc phải xin phép, mà còn phải bảo đảm không gây phương hại đến quyền nhân thân của tác giả đối với tác phẩm gốc. Nếu tiếp tục phân phối hoặc kinh doanh các dữ liệu này thì sẽ phát sinh thêm quyền phân phối.

Vì vậy, muốn thực hiện các hoạt động trên, doanh nghiệp phải có hợp đồng chuyển quyền bằng văn bản với chủ sở hữu quyền, thay vì mặc nhiên cho rằng việc đã mua file nhạc đồng nghĩa được quyền khai thác thương mại.

Nguyên tắc này không chỉ dừng ở karaoke

Cách phân tích trên của luật sư Duy được đưa ra trong bối cảnh vụ việc karaoke cụ thể, nhưng về bản chất pháp lý, nó phản ánh một nguyên tắc chung của Luật Sở hữu trí tuệ: bất kỳ chủ thể nào sao chép, chuyển đổi định dạng, lưu trữ và phân phối lại nội dung (âm nhạc, video, hình ảnh…) lấy từ nền tảng số để tích hợp vào một sản phẩm hoặc dịch vụ thương mại đều cần có sự cho phép của chủ sở hữu quyền, chứ không thể suy ra quyền đó chỉ vì đã trả phí tải nội dung.

Đây là điều đáng lưu ý với nhiều mô hình sản phẩm nội dung số đang phổ biến hiện nay – ứng dụng nghe nhạc/xem video ngoại tuyến, nền tảng cung cấp kho nhạc nền và hiệu ứng dựng sẵn, thiết bị phần cứng tích hợp sẵn kho nội dung giải trí – vì các mô hình này đều dựa trên cùng một quy trình kỹ thuật: tải, lưu trữ, sao chép và đồng bộ nội dung tới thiết bị hoặc người dùng cuối.

Trao đổi với phóng viên báo Dân trí, Thạc sĩ – Luật sư Nguyễn Văn Duy, Giám đốc Công ty Luật Hoàng Duy và Cộng sự cho biết, nghĩa vụ trả tiền bản quyền không gắn với người hát, mà gắn với chủ thể sử dụng âm nhạc để phục vụ hoạt động kinh doanh.

Doanh nghiệp cần làm gì để hạn chế rủi ro?

Luật sư Duy nhận định nhóm cần cẩn trọng nhất chính là các doanh nghiệp sản xuất và cung cấp đầu karaoke. Trước khi cài đặt bất kỳ bài hát nào vào thiết bị, doanh nghiệp nên có hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng hoặc chuyển quyền với chủ sở hữu quyền tác giả (nhạc sĩ sáng tác – thường thông qua VCPMC) và quyền liên quan (ca sĩ biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình – thường thông qua Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Việt Nam – RIAV), bảo đảm đầy đủ các quyền đối với việc sao chép, phân phối và truyền đạt tới công chúng. Bên cạnh đó, doanh nghiệp nên xây dựng danh mục tác phẩm minh bạch, có cơ chế trả tiền bản quyền phù hợp và lưu giữ đầy đủ hồ sơ cấp phép để chứng minh nguồn gốc hợp pháp.

Đối với các cơ sở kinh doanh karaoke, luật sư khuyến nghị chủ động ký hợp đồng và thực hiện nghĩa vụ trả tiền bản quyền thông qua VCPMC hoặc trực tiếp với chủ sở hữu quyền, đồng thời chỉ sử dụng thiết bị và kho nhạc có nguồn gốc rõ ràng. Một giải pháp khác là bổ sung điều khoản trong hợp đồng mua đầu karaoke, yêu cầu nhà cung cấp cam kết và bảo đảm về tính hợp pháp của kho nội dung được cài đặt trên thiết bị.

Với các nền tảng số, luật sư Duy cho rằng cần minh bạch điều khoản cấp phép, phân biệt rõ phạm vi sử dụng cá nhân và khai thác thương mại. Đồng thời, các nền tảng cần tăng cường công nghệ nhận diện bản quyền và phối hợp với các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan để xử lý nội dung vi phạm.

 

Đánh giá post này

Liên hệ để được hỗ trợ tốt nhất

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *