03/08/2026 - 11:06

Phạt tới 2 tỷ đồng với thực phẩm bẩn: Mức trần cao vẫn chưa đủ, cần chế tài gắn với lợi nhuận

Trao đổi với Báo Tuổi trẻ và Báo Công luận, Thạc sĩ – Luật sư Nguyễn Văn Duy, Giám đốc Công ty Luật TNHH Hoàng Duy và Cộng sự, nhấn mạnh rằng việc dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) nâng mức phạt tối đa lên 1 tỷ đồng với cá nhân và 2 tỷ đồng với tổ chức là một bước đi đúng hướng, nhưng vấn đề cốt lõi nằm ở việc chế tài phải tương xứng với quy mô lợi nhuận mà hành vi vi phạm mang lại.

Báo Công Luận và Báo Tuổi Trẻ – Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) do Bộ Y tế chủ trì xây dựng, gồm 8 chương và 71 điều, dự kiến thay thế Luật An toàn thực phẩm năm 2010, đề xuất nâng mức phạt tiền tối đa lên 1 tỷ đồng đối với cá nhân và 2 tỷ đồng đối với tổ chức vi phạm – cao gấp khoảng 10 lần mức trần hiện hành (100 triệu và 200 triệu đồng). Quy định này được kỳ vọng tăng sức răn đe trong bối cảnh các vụ sản xuất, kinh doanh thực phẩm giả, thực phẩm kém chất lượng ngày càng gia tăng và gây hậu quả nghiêm trọng.

Phụ huynh kiểm tra mã vạch đối với thực phẩm sử dụng làm suất ăn bán trú cho học sinh tại Hà Nội.

Xoay quanh đề xuất này, hai chuyên gia – PGS.TS Nguyễn Duy Thịnh, nguyên giảng viên Viện Công nghệ sinh học và Thực phẩm (Đại học Bách khoa Hà Nội), và luật sư Nguyễn Văn Duy, Giám đốc Công ty Luật TNHH Hoàng Duy và Cộng sự – đều cho rằng nâng mức phạt là cần thiết, nhưng chưa đủ nếu chỉ dừng lại ở việc tăng con số tuyệt đối.

Phạt cao nhưng phải thi hành được

Theo PGS Thịnh, quy định xử phạt trước hết phải có tính răn đe, nhưng điều quan trọng hơn là phải khả thi trong thực thi; một mức phạt quá cao mà không thể áp dụng trên thực tế sẽ mất đi ý nghĩa của nó. Ông cho rằng không thể áp một mức phạt cứng cho mọi đối tượng, bởi cùng một hành vi vi phạm nhưng một doanh nghiệp có doanh thu hàng trăm tỷ đồng và một hộ kinh doanh nhỏ lẻ sẽ chịu tác động hoàn toàn khác nhau. Vì vậy, mức phạt cần được cân nhắc dựa trên quy mô kinh doanh, doanh thu, lợi nhuận, giá trị hàng hóa và mức độ vi phạm – với doanh nghiệp lớn, vài tỷ đồng có thể chưa đủ sức thay đổi hành vi, nhưng với hộ kinh doanh nhỏ, mức phạt quá cao lại có thể vượt xa khả năng chấp hành. Theo ông, mục tiêu cuối cùng của xử phạt là buộc người kinh doanh thay đổi hành vi, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng.

“Phạm pháp không được có lãi”

Luật sư Nguyễn Văn Duy nhìn nhận vấn đề cốt lõi không nằm ở con số tuyệt đối của mức phạt, mà ở tương quan giữa chế tài với khoản lợi mà người vi phạm thu được. Khi một cơ sở thu lợi hàng trăm tỷ đồng từ thực phẩm bẩn nhưng chỉ đối diện khoản phạt vài trăm triệu đến vài tỷ đồng, thì xét về bản chất kinh tế, tiền phạt đã trở thành một loại “chi phí” hay khoản dự phòng rủi ro mà doanh nghiệp sẵn sàng chấp nhận trả.

Ông phân tích, với hộ kinh doanh nhỏ, mức phạt 2 tỷ đồng có thể là “mức hủy diệt”, nhưng với doanh nghiệp có doanh thu hàng nghìn tỷ đồng, đây có thể chỉ là một khoản trích lập rủi ro không đáng kể. Do đó, mức trần cố định nên đóng vai trò ngưỡng tối thiểu về tính nghiêm khắc, còn mức phạt thực tế cần được thiết kế co giãn theo giá trị hàng hóa vi phạm, doanh thu từ hành vi vi phạm và khoản lợi bất chính thu được – tương tự cách nhiều nước ấn định mức phạt theo tỷ lệ phần trăm doanh thu. Nguyên tắc xuyên suốt, theo ông, phải là: hành vi phạm pháp không được phép sinh lời.

Trên thực tế, công cụ này không hoàn toàn mới. Nghị định 115/2018/NĐ-CP hiện hành đã cho phép phạt tới 7 lần giá trị hàng hóa vi phạm với một số nhóm hành vi, không bị giới hạn bởi trần 100/200 triệu đồng, đồng thời có các biện pháp buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp, buộc tiêu hủy, thu hồi, buộc chịu chi phí xử lý ngộ độc. Vấn đề, theo luật sư Duy, là những công cụ này bị áp dụng rời rạc, chưa triệt để và chưa được nâng thành nguyên tắc xuyên suốt của luật.

Không thể chỉ dừng ở phạt tiền

Cả hai chuyên gia đều thống nhất rằng tiền phạt chỉ là một phần của hệ thống chế tài, nếu áp dụng đơn thuần thì vẫn có nguy cơ bị doanh nghiệp coi là “chi phí kinh doanh” – nhất là với các vụ trục lợi hàng chục, hàng trăm tỷ đồng.

Theo PGS Thịnh, cần phân biệt vi phạm nhằm mục đích thu lợi với hành vi gây hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe, tính mạng con người. Với vi phạm mang tính chất kinh tế, mức phạt có thể căn cứ vào quy mô kinh doanh và lợi ích thu được; nhưng nếu sử dụng chất cấm, tái phạm hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, cần áp dụng đình chỉ, cấm kinh doanh hoặc xử lý hình sự.

Luật sư Duy đề xuất chế tài tiền tệ cần đi kèm hai lớp bổ sung. Lớp thứ nhất là tước đi lợi ích kinh tế của hành vi vi phạm: buộc nộp lại toàn bộ số lợi bất hợp pháp, tịch thu tang vật và phương tiện vi phạm, tách bạch hoàn toàn với khoản tiền phạt – tiền phạt để trừng phạt, còn khoản nộp lại lợi bất chính để bảo đảm hành vi vi phạm không sinh lời, hai khoản này phải cộng dồn chứ không thay thế nhau. Lớp thứ hai là các chế tài phi tiền tệ tác động đến “quyền tồn tại” của cơ sở: tước quyền sử dụng giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm, đình chỉ hoạt động có thời hạn, buộc thu hồi sản phẩm, và trong trường hợp nghiêm trọng là cấm kinh doanh trong lĩnh vực liên quan. Cùng với đó, cần gắn trách nhiệm cá nhân của người quản lý, người đại diện theo pháp luật, để tránh tình trạng “núp bóng pháp nhân” rồi lập pháp nhân khác tiếp tục vi phạm. Việc công khai danh tính cơ sở vi phạm trên hệ thống dữ liệu quốc gia cũng được xem là một chế tài phi truyền thống nhưng có sức nặng lớn, vì tác động trực tiếp đến uy tín và khả năng tồn tại trên thị trường của doanh nghiệp.

Cả hai chuyên gia đồng tình rằng chế tài mạnh nhất không phải là mức tiền phạt lớn nhất, mà là việc loại chủ thể vi phạm ra khỏi thị trường. Pháp luật hiện hành đã có sẵn các công cụ này – trong Nghị định 115/2018 (tước giấy chứng nhận, đình chỉ hoạt động có thời hạn) và trong Bộ luật Hình sự đối với pháp nhân thương mại (đình chỉ hoạt động, cấm kinh doanh, thậm chí đình chỉ vĩnh viễn) – nhưng còn ít được áp dụng, một phần do tâm lý ngại tác động đến việc làm và hoạt động sản xuất. Vì vậy, luật sư Duy cho rằng dự thảo luật nên quy định rõ những trường hợp bắt buộc phải áp dụng đình chỉ, tước giấy phép – như tái phạm, sử dụng chất cấm, hoặc vi phạm gây hậu quả cho sức khỏe cộng đồng – để hạn chế sự tùy nghi và bảo đảm tính nghiêm minh.

Ranh giới xử lý hình sự: Điều 317 và Điều 193

Theo luật sư Duy, việc xử lý vi phạm cần phối hợp đồng thời bốn công cụ theo một trật tự có logic: buộc hoàn trả toàn bộ khoản thu lợi bất chính và tịch thu tài sản do vi phạm mà có nên là điều kiện mặc định, áp dụng trong mọi trường hợp; tăng mức phạt tiền là lớp răn đe bổ sung; còn xử lý hình sự phải là ranh giới cứng đối với hành vi nghiêm trọng, có tổ chức, quy mô lớn hoặc gây hậu quả cho sức khỏe cộng đồng.

Ông lưu ý một đặc thù pháp lý: Bộ luật Hình sự có hai đường xử lý song song đối với lĩnh vực này – Điều 317 về tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, và Điều 193 về tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm. Điều 317 trong nhiều trường hợp phụ thuộc vào việc chứng minh hậu quả (gây ngộ độc, tổn hại sức khỏe theo tỷ lệ nhất định, hoặc chết người) hoặc các ngưỡng định lượng vốn rất khó xác định trong lĩnh vực thực phẩm. Trong khi đó, Điều 193 định tội dựa trên tính chất “giả” của sản phẩm và giá trị hàng hóa, không buộc phải chứng minh thiệt hại sức khỏe. Sau lần sửa đổi năm 2025, khung hình phạt của Điều 193 đã được siết chặt đáng kể: bỏ hình phạt tiền ở khung cơ bản, phạt tù từ 2 đến 5 năm và có thể lên tới 20 năm; pháp nhân thương mại có thể bị phạt tới 9–18 tỷ đồng, đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc vĩnh viễn, cấm kinh doanh. Vì vậy, với nhóm thực phẩm giả hoặc chứa chất cấm, luật sư Duy cho rằng việc xử lý theo hướng “hàng giả” thường khả thi và đủ sức răn đe hơn so với việc chờ chứng minh thiệt hại sức khỏe.

Thạc sĩ – Luật sư Nguyễn Văn Duy, Giám đốc Công ty Luật TNHH Hoàng Duy và Cộng sự, nhấn mạnh rằng việc dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) nâng mức phạt tối đa lên 1 tỷ đồng với cá nhân và 2 tỷ đồng với tổ chức là một bước đi đúng hướng, nhưng vấn đề cốt lõi nằm ở việc chế tài phải tương xứng với quy mô lợi nhuận mà hành vi vi phạm mang lại.

Ba trụ cột cho một cơ chế xử phạt đủ sức răn đe

Luật sư Duy đề xuất một cơ chế xử phạt được thiết kế trên ba trụ cột:

  1. Phạt tiền theo bội số hoặc tỷ lệ – lấy giá trị hàng hóa vi phạm, doanh thu từ hành vi vi phạm hoặc khoản lợi bất chính làm cơ sở tính, thay vì chỉ dùng một con số tuyệt đối; kế thừa cơ chế “7 lần giá trị hàng hóa” của Nghị định 115 nhưng nâng lên thành nguyên tắc chung của Luật, đồng thời bổ sung phương án phạt theo phần trăm doanh thu đối với doanh nghiệp lớn.
  2. Tước bỏ triệt để lợi ích kinh tế – buộc nộp lại toàn bộ lợi bất chính và tịch thu tài sản do vi phạm mà có, độc lập với khoản tiền phạt.
  3. Chế tài phi tiền tệ và trách nhiệm cá nhân – đình chỉ, tước giấy phép, cấm ngành, công khai vi phạm và truy trách nhiệm người đứng đầu.

Ông cũng nhấn mạnh một khó khăn mang tính bản chất của lĩnh vực này: thiệt hại do thực phẩm bẩn gây ra cho sức khỏe con người thường diễn ra âm thầm, tích lũy qua thời gian, và chỉ được “lượng hóa” khi người tiêu dùng đi khám, chữa bệnh và xác định được nguyên nhân – điều gần như không thể chứng minh chặt chẽ về quan hệ nhân quả trong một vụ án cụ thể. Nếu buộc chế tài phải chờ đến khi có hậu quả sức khỏe được chứng minh, pháp luật sẽ luôn đi sau, còn người tiêu dùng luôn là bên gánh chịu.

Vì vậy, theo luật sư Duy, triết lý xử lý cần chuyển sang hướng phòng ngừa: định lượng chế tài theo hành vi và quy mô vi phạm (khối lượng, doanh thu, thời gian, phạm vi phân phối, việc sử dụng chất cấm) chứ không chờ đếm số nạn nhân; coi việc sử dụng chất cấm hay sản xuất thực phẩm giả là vi phạm đã hoàn thành ngay từ hành vi, không cần chờ hậu quả xảy ra. Song song đó, cần đầu tư mạnh cho hệ thống truy xuất nguồn gốc và cơ sở dữ liệu quốc gia về an toàn thực phẩm, bởi khi chuỗi cung ứng minh bạch thì việc quy trách nhiệm và chứng minh nhân quả mới trở nên khả thi – đó mới là cách để chế tài thực sự bảo vệ người tiêu dùng, thay vì chỉ xử lý phần nổi sau khi hậu quả đã xảy ra.

 

Đánh giá post này

Liên hệ để được hỗ trợ tốt nhất

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *