Trong xã hội hiện đại, xu hướng “sống chung như vợ chồng không đăng ký kết hôn” (hay còn gọi là “sống thử”) ngày càng phổ biến. Tuy nhiên, khi mối quan hệ rạn nứt, đổ vỡ hoặc một bên qua đời, việc chia tài sản khi sống chung không đăng ký kết hôn thường trở thành vấn đề pháp lý phức tạp. Vậy theo pháp luật Việt Nam, khối tài sản chung được tạo lập trong khoảng thời gian này sẽ được phân chia như thế nào? Bài viết dưới đây sẽ phân tích chi tiết các căn cứ pháp lý để giải quyết tranh chấp và bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên.
1. Chung sống như vợ chồng có được pháp luật công nhận không?
1.1. Khái niệm pháp lý
Theo Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, hôn nhân chỉ được pháp luật công nhận khi đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, việc chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn không làm phát sinh quan hệ vợ chồng hợp pháp.
1.2. Hai trường hợp cần phân biệt
| Trường hợp | Nội dung | Hệ quả pháp lý |
|---|---|---|
| Chung sống trước 03/01/1987 | Trước ngày luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực | Được công nhận là vợ chồng hợp pháp |
| Chung sống từ 03/01/1987 trở đi | Không đăng ký kết hôn | Không được công nhận là vợ chồng |
Căn cứ pháp lý: Điều 14, 15, 16 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014
2. Tài sản trong thời gian chung sống được xác định như thế nào?
2.1. Nguyên tắc cơ bản, tài sản chung theo phần
Vì không có quan hệ hôn nhân hợp pháp, tài sản của các bên trong thời gian chung sống không phải là tài sản chung hợp nhất của vợ chồng mà được xác định theo chế độ sở hữu chung theo phần quy định tại Bộ luật Dân sự 2015.
2.2. Ba loại tài sản cần xác định
a) Tài sản riêng của mỗi người
-
Là tài sản có trước khi chung sống.
-
Tài sản được tặng cho riêng, thừa kế riêng trong thời gian chung sống.
-
Quyền lợi: Trừ khi có thỏa thuận gộp vào tài sản chung, còn lại mỗi người có quyền sở hữu và toàn quyền định đoạt đối với tài sản riêng của mình.
b) Tài sản chung do cùng tạo lập
-
Là tài sản mà cả hai cùng đóng góp tài chính, công sức tạo ra trong thời gian chung sống (được coi là sở hữu chung theo phần).
-
Cách chia: Ưu tiên giải quyết theo thỏa thuận của hai bên. Nếu không thỏa thuận được, tài sản sẽ được chia theo tỷ lệ đóng góp thực tế của mỗi bên.
-
Lưu ý quan trọng: Theo khoản 2 Điều 16 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, công việc nội trợ và các công việc khác để duy trì đời sống chung được pháp luật công nhận tương đương với lao động có thu nhập.
c) Tài sản không xác định được tỷ lệ đóng góp
-
Trường hợp hai bên có tài sản chung nhưng không có thỏa thuận về cách chia và cũng không chứng minh được phần đóng góp cụ thể của mỗi người.
-
Cách chia: Theo khoản 2 Điều 209 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp không xác định được phần quyền sở hữu đối với tài sản chung theo phần thì quyền sở hữu của mỗi bên được xác định là bằng nhau (chia đôi mỗi bên 1/2).
3. Khi chia tay và quy trình phân chia tài sản và một số tài sản đặc thù
3.1. Thỏa thuận tự nguyện hoặc khởi kiện ra tòa
Ưu tiên hàng đầu là hai bên tự thỏa thuận cách phân chia tài sản, có thể lập văn bản thỏa thuận có công chứng để đảm bảo giá trị pháp lý.
Nếu không thỏa thuận được, một hoặc cả hai bên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp tài sản.
Tòa án cần xem xét:
- Ai đứng tên tài sản (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hợp đồng mua bán…)
- Chứng cứ chứng minh đóng góp của mỗi bên (hóa đơn, chuyển khoản, hợp đồng…)
- Công sức đóng góp gián tiếp (nội trợ, chăm sóc con cái…)
Căn cứ pháp lý: Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2025 – Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tài sản chung của nam, nữ chung sống như vợ chồng không có đăng ký kết hôn
3.2. Một số tài sản đặc thù
Thứ nhất, là nhà đất đứng tên một người chứ không phải là cả 2 vợ chồng cùng đứng tên. Người đứng tên sổ đỏ là chủ sở hữu hợp pháp. Bên kia phải chứng minh có đóng góp vào việc tạo lập tài sản đó thì mới có quyền yêu cầu chia. Chứng minh được thì sẽ được hưởng phần tương ứng với mức đóng góp, còn nếu không chứng minh được mình không có đóng góp gì vào quá trình xây hay mua thì sẽ không được hưởng bất cứ gì.
Thứ hai, là tiền gửi ngân hàng tài khoản đứng tên ai người đó quản lý. Nhưng bên còn lại có thể được hưởng từ số tiền đó nếu có minh chứng là trong số tiền gửi ngân hàng có sự góp tiền của mình là có được chia % theo quy định.
Thứ ba, tài sản mua bằng tiền chung. Tài sản chung dù có đứng tên ai đi nữa nhưng nếu đã dùng tiền chung để mua thì có thể yêu cầu chia, ví dụ như: ô tô, mua nhà, hay tài sản được hình thành chung trong thời gian chung sống với điều kiện cần chứng minh được sử dụng tiền của chung để mua.
4. Quyền nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng và khi một bên mất thì quyền thừa kế thế nào?
4.1. Quyền nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng
Tuy không được công nhận là vợ chồng, nhưng quyền và nghĩa vụ với con vẫn được pháp luật bảo vệ đầy đủ:
- Con chung vẫn được xác định quan hệ cha – con, mẹ – con theo quy định pháp luật
- Quyền nuôi con do hai bên thỏa thuận hoặc Tòa án quyết định dựa trên lợi ích tốt nhất của trẻ
- Nghĩa vụ cấp dưỡng vẫn phát sinh bình thường theo Điều 82 Luật HN&GĐ 2014
4.2 Quyền chia thừa kế khi một bên mất đi
Khi chung sống với nhau mà không có đăng ký kết hôn, người chồng hoặc vợ mất đi thì đây là điểm bất lợi lớn nhất khi chia thừa kế. Người chung sống không đăng ký kết hôn không được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật của nhau.
Bởi lẽ vì không phải vợ/chồng hợp pháp nên không thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo Điều 651 bộ luật dân sự 2015. Nếu mà bên kia có ý muốn để lại tài sản cho người chung sống không có hôn thú thì cần lập di chúc hợp lệ, rõ ràng theo quy định pháp luật
5. Quan điểm của luật sư về việc chia tài sản khi chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
Theo như ThS – Luật sư Nguyễn Văn Duy, Giám đốc Công ty Luật TNHH Hoàng Duy và Cộng sự có chia sẻ về vấn đề trên thì “khi chung sống với nhau như vợ chồng chưa phải hôn nhân hợp pháp thì khi chia tay nhau thì đây là tranh chấp giải quyết dựa trên pháp luật dân sự thông thường, vì đó là tạo lập tài sản không phải của vợ và chồng nên không giải quyết theo luật hôn nhân và gia đình mà được pháp luật dân sự điều chỉnh. Nghĩa là tài sản của hai người hình thành thì ai đóng góp nhiều thì hưởng nhiều, ai đóng góp ít thì thưởng ít, phân chia tùy theo mức đóng góp”.
Kết luận
Chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý về tài sản và thừa kế. Để bảo vệ quyền lợi của mình, người trong cuộc nên chủ động thực hiện các biện pháp pháp lý cần thiết hoặc đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật.





